Lễ cưới Việt: Các thủ tục đầy ý nghĩa trong phong tục cưới hỏi của người Việt

Thủ tục đám cưới

Đám cưới Việt Nam là một sự kiện quan trọng trong đời người, đánh dấu sự gắn kết giữa hai gia đình và sự khởi đầu cho cuộc sống hôn nhân của hai cá nhân.

Phong tục cưới hỏi truyền thống có rất nhiều quy tắc phức tạp. Tuy nhiên, theo thời gian, các nghi lễ đã có phần được lược giản và khác biệt tùy theo từng vùng địa phương khác nhau. Dẫu vậy, đám cưới vẫn tuân theo 3 lễ cơ bản: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới.

Trong bài viết này, hãy cùng Nội thất Đức Hà tìm hiểu chi tiết cũng như ý nghĩa của các thủ tục trong phong tục cưới xin của Việt Nam nhé!

Lễ dạm ngõ

Lễ dạm ngõ là lễ gặp mặt chính thức đầu tiên của hai bên gia đình. Đây là một lễ tiết quan trọng, là thủ tục cần thiết để người lớn hai họ thưa chuyện với nhau.

Khi có sự đồng ý của đằng gái, nhà trai sẽ mang lễ sang. Đồ lễ thường phải có cau, trầu, chè, rượu, nước uống, bánh kẹo… được chuẩn bị theo số chẵn.

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Trầu cau là lễ không thể thiếu tuân theo câu chuyện trầu cau trong cổ tích của người Việt Nam, đại diện cho tình nghĩa vợ chồng, họ hàng ruột thịt gắn bó keo sơn.

Đồ lễ, sau khi dâng lên bàn thờ tổ tiên, sẽ được nhà gái dẫn trả một phần lại cho nhà trai. Phần lễ này được gọi là “lại quả”.

Lễ dạm ngõ là thời điểm mà người lớn của hai bên gia đình sẽ ngồi lại bàn bạc, xem ngày, chọn ngày cho các thủ tục khác sẽ diễn ra trong lễ ăn hỏi và lễ cưới sau này.

Lễ ăn hỏi

Lễ ăn hỏi, hay còn gọi là lễ vấn danh, theo thủ tục xưa là lễ hỏi tên tuổi người con gái. Cô gái đã nhận lễ vấn danh sẽ được xem là đã có nơi, có chốn.

Sau lễ vấn danh có tục phải có báo hỷ, chia trầu. Nhà gái trích trong đồ lễ nhà trai đưa đến một lá trầu, một quả cau, một gói trà nhỏ, một cái bánh cốm, hoặc một vài hạt mứt. Lễ này sẽ được gói thành hộp hoặc đặt trong phong bao màu hồng và được chia cho họ hàng, bạn bè của nhà gái.

Nhà trai cũng báo hỷ, nhưng không cần lễ vật mà chỉ cần thiệp. Hai bên gia đình cũng sẽ định ngày tiến hành lễ cưới trong lễ này.

Về đồ lễ trong lễ ăn hỏi, tráp ăn hỏi phải là số lẻ tượng trưng cho sự may mắn và sung túc, có thể gồm 5, 7, 9 hoặc 11 tráp. Lễ vật trong mỗi tráp phải là bội số của hai thể hiện cho sự có đôi có cặp, hạnh phúc đủ đầy trong đời sống hôn nhân. Đồ lễ trong lễ ăn hỏi sẽ không thể thiếu trầu cau, bánh phu thê (bánh xu xê), bánh cốm, chè, mứt sen, rượu, thuốc lá,… thêm lợn quay, xôi nếp.

Có một điều nhà trai cần chú ý: Cần phải chuẩn bị 3 phong bì đựng tiền, được gọi là “lễ đen”. Một phong bì dành cho nhà nội cô dâu, một phong bì khác dành cho nhà ngoại cô dâu và phong bì còn lại được dùng để thắp hương trên bàn thờ tổ tiên. Số tiền lễ đen sẽ tùy thuộc vào nhà gái.

Lễ cưới

Lễ cưới truyền thống trong văn hóa người Việt gồm nhiều thủ tục khác nhau. Một số thủ tục hiện đã được lược bớt nhưng với những gia đình trọng lễ giáo truyền thống, lễ cưới phải được tiến hành tuần tự như sau:

Lễ nạp tài

Lễ nạp tài được tổ chức 1 ngày trước lễ rước dâu. Nhà trai đem sính lễ sang nhà gái, với mục đích góp phần với nhà gái chi phí cỗ bàn, đồng thời báo cho cô dâu và nhà gái biết mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Lễ xin dâu

Sát giờ đón dâu, nhà trai sẽ cử người đại diện đưa trầu, rượu đến nhà gái để xin dâu và thông báo đoàn rước dâu của nhà trai đã đến.

Lễ rước dâu

Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành đoàn, có cụ già cầm hương đi trước, cùng với người mang lễ vật. Nhà gái sẽ mời cụ già vào trước, thắp hương trước bàn thờ nhà gái rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu và chú rể khi này làm lễ trước bàn thờ, báo cáo với tổ tiên về hỷ sự của hai người.

Người thân và bạn bè của cô dâu sau đó sẽ tặng quà cưới cho cô dâu. Đợi đến giờ hoàng đạo, nhà trai sẽ xin phép nhà gái cho đưa dâu về nhà.

Lễ rước dâu vào nhà

Đoàn đưa dâu về đến ngõ. Lúc này, mẹ chồng cầm bình vôi, tránh mặt đi một lúc để cô dâu vào nhà. Điều này được cho là có ý nghĩa khắc phục những chuyện cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu có thể xảy ra sau này.

Lễ tơ hồng

Khi hai họ ra về, một số người (không phải người thân tín) ở lại chứng kiến cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Lễ cúng rất đơn giản, cụ già cầm hương lúc đón dâu hoặc cụ già nhất họ sẽ làm chủ lễ, cho cô dâu, chú rể lạy lễ tơ hồng rồi vái nhau.

Trải giường chiếu

Mẹ chồng hoặc một bà cao tuổi đông con nhiều cháu, hiền từ, phúc hậu sẽ trải đôi chiếu lên giường tân hôn một cách ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận khi cô dâu chú rể vào phòng tân hôn.

Lễ hợp cẩn

Lễ hợp cẩn là buổi lễ cuối cùng của đám cưới, được thực hiện tại nhà trai. Trước giường có bày trầu rượu cùng một đĩa bánh phu thê. Cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng mới cùng uống.

Tiệc cưới

Đám cưới, dù lớn hay nhỏ, đều không thể thiếu được tiệc cưới. Ở thành phố, các gia đình thường tổ chức tiệc cưới ngay sau lễ thành hôn tại các khách sạn sang trọng. Tiệc cưới có thể được tổ chức tại nhà gái trước hôm cưới hoặc nhà trai trong ngày cưới, hoặc gộp chung thành một tiệc.

Lễ lại mặt

Lễ lại mặt, còn được gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ, diễn ra sau lễ thành hôn khoảng 2 đến 4 ngày. Hai vợ chồng trẻ sẽ trở về nhà cha mẹ vợ mang theo lễ vật để lễ gia tiên. Lễ vật thường bao gồm xôi, trầu, lợn quay và các thức ăn truyền thống khác.

Ý nghĩa của lễ lại mặt

Lễ lại mặt là một trong những nghi thức quan trọng trong đám cưới, thể hiện lòng hiếu thảo của đôi vợ chồng mới cưới đối với cả cha mẹ hai bên. Nó cũng là lời cảm ơn của nhà trai đối với nhà gái vì đã nuôi dạy và gả con gái cho họ. Ngoài ra, lễ lại mặt còn thể hiện sự gắn bó, thân mật giữa hai gia đình và tạo nền tảng cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Cuối cùng, phong tục cưới hỏi của người Việt không chỉ là một loạt các nghi thức truyền thống mà còn là một biểu tượng của tình yêu, sự gắn kết gia đình và sự tôn trọng giữa các thế hệ. Những nghi lễ từ lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi đến lễ cưới đều thể hiện sự chu đáo, tinh tế và tôn trọng những giá trị văn hóa lâu đời. Dù cho xã hội ngày càng hiện đại và có nhiều sự thay đổi, nhưng những giá trị cốt lõi trong phong tục cưới hỏi vẫn được duy trì và phát huy. Việc hiểu và tôn trọng các nghi thức này không chỉ giúp chúng ta gìn giữ văn hóa truyền thống mà còn tạo nên một cuộc hôn nhân đầy ý nghĩa và bền vững. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, mỗi đám cưới không chỉ là một sự kiện cá nhân mà còn là một phần của bức tranh văn hóa rộng lớn, thể hiện tinh thần đoàn kết và yêu thương của dân tộc Việt Nam.

Trả lời